Khi guồng máy tuyên truyền của nhà nước Việt Nam liên tục tung hô về cái gọi là “kỷ nguyên vươn mình” đầy hứa hẹn dưới sự chèo lái của Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Tô Lâm. Nhưng trên thực tế diễn ra trên không gian mạng và đời sống xã hội ở trong nước lại đang phơi bày một nghịch lý đầy gai góc.
Truyền thông quốc tế đưa tin, báo Nhân Dân ngày 2/8/2026 vừa gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh về mức độ thu hẹp không gian tự do ngôn luận tại xã hội Việt Nam.
Theo đó, lực lượng An ninh mạng và các cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính 86 trường hợp với tổng số tiền lên tới 639,5 triệu đồng với cáo buộc “tiếp tay lan truyền thông tin xấu độc sai sự thật”. Đáng chú ý hơn, trong số đó có tới 56 trường hợp là đảng viên.
Điển hình như, trường hợp một người trú tại Gia Lai bị công an tạm giữ vì đã nhắc nhở nhiều lần, song vẫn chia sẻ bài viết cùng video từ thoibao.de của nhà báo Lê Trung Khoa ở Đức, kèm theo những bình luận mang tính cổ vũ và ủng hộ.
Theo báo cáo từ A05 – Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Bộ Công an, bên cạnh những người vi phạm do thiếu hiểu biết và nhẹ dạ, thì có tỷ lệ không nhỏ là đảng viên có biểu hiện chia sẻ có chủ đích.
Được biết, vẫn theo A05, trong năm 2025 cơ quan này giám sát một khối lượng khổng lồ lên tới 15 triệu tài khoản Facebook, hơn 270 nghìn website và blog, 55 nghìn kênh YouTube cùng hơn một 100 nghìn kênh TikTok.
Điều đó đã chứng tỏ cho thấy, một hệ thống giám sát toàn diện của nhà nước Việt Nam đang bóp nghẹt mọi luồng tư tưởng độc lập và chính kiến khác biệt của mọi người dân.
Chỉ tính riêng từ tháng 5 đến tháng 7/2026, nhà nước đã triệu tập và xử phạt hơn 350 người vì dám bình luận hoặc chia sẻ nội dung từ các trang của ông Lê Trung Khoa, một người Đức gốc Việt tại CHLB Đức.
Trước sự gia tăng chóng mặt của các biện pháp trừng phạt này, công luận ở Việt Nam đã đặt ra những câu hỏi cốt lõi. Đó là: đâu là tiêu chí minh bạch để định nghĩa là một trang mạng bị coi là “phản động”?
Và liệu ranh giới mỏng manh giữa ý kiến phản biện chính đáng được hiến định bởi Hiến pháp, với cái gọi là “hành vi xuyên tạc” có đang bị xóa nhòa để phục vụ mục đích chụp mũ nhằm ngăn cản?
Đây chính là lý do, đã khiến giới quan sát và các chuyên gia bảo vệ Nhân quyền quốc tế đã cảnh báo về một bức tranh xám xịt về quyền tự do biểu đạt và tự do ngôn luận tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Theo đó, ở Việt Nam hiện nay, khẩu hiệu đổi mới và cải cách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ nhằm che đậy một xu thế tập trung quyền lực, và thắt chặt kiểm soát xã hội bằng tư duy quản lý thời bao cấp dưới một hình thức tinh vi hơn.
Tương tự, trong khu vực kinh tế tư nhân vẫn oằn mình đối mặt với vô vàn rào cản hành chính thì vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước lại được củng cố mạnh mẽ hơn, và trái với quy luật của một nền Kinh tế thị trường đúng nghĩa.
Đáng chú ý, các chuyên gia quốc tế thẳng thắn đánh giá rằng, ông Tô Lâm cần phải nghiêm túc tự soi rọi và xem xét lại chính bản thân mình, đồng thời đặt câu hỏi: Vì sao đến mức ngay cả nhiều đảng viên Đảng CSVN cũng tỏ thái độ không đồng tình.
Điều đó, đã trái với những cam kết ban đầu của ông Tô Lâm về việc đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, vươn mình theo xu hướng văn minh và tiến bộ của phương Tây, song dường như đã bị rũ bỏ hoàn toàn, nhường chỗ cho một mô hình quản lý chặt chẽ và cứng nhắc hơn bao giờ hết.
Khi quyền tự do của người dân bị bóp nghẹt, toàn bộ quyền lực tập trung vào Bộ Công An và tư duy bao cấp quay trở lại, thì cái gọi là “kỷ nguyên vươn mình” rốt cuộc cũng chỉ là cái bánh vẽ nhằm che đậy thực trạng thụt lùi của Việt Nam.
Trà My – Thoibao.de










